Trang chủ Tìm hiểu pháp luật Sở hữu trí tuệ Khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp

Khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp

Quyền sở hữu công nghiệp chỉ được pháp luật bảo hộ khi chúng đã được cơ quan nhà nước chính thức cấp văn bằng bảo hộ.

Khoa học, kĩ thuật, công nghệ không chỉ là sáng tạo đơn thuần của con người mà đã trở thành bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất có tính chất quyết định đến năng suất lao động. Tuy nhiên, sản phẩm “khoa học, kĩ thuật” mà con người tạo ra lại có những nét đặc thù không giống như các vật phẩm khác, đó là những vật phẩm VÔ hình mà bản thân người tạo ra nó không thể chiếm hữu cho riêng mình, chúng rất dễ bị tước đoạt, chiếm dụng. Việc bảo vệ các thành quả của hoạt động sáng tạo được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Trong thời đại ngày nay, các hoạt động sở hữu công nghiệp đa dạng, phong phú không chỉ còn bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà mang tính toàn cầu. Việc Nhà nước quy định về sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng nhằm bảo vệ quyền của những người hoạt động trong lĩnh vực đặc biệt có ý nghĩa xã hội và kinh tế quan trọng.

Quyền shữu công nghiệp được hiểu theo hai nghĩa

– Hiểu theo nghĩa khách quan: Quyền sở hữu công nghiệp là pháp luật về sở hữu công nghiệp hay nói cách khác là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh sau khi con người sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ và được pháp luật coi là các đối tượng sở hữu công nghiệp. Với nghĩa này, quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu đối với tài sản vô hình, mặt khác, quyền sở hữu công nghiệp còn bao gồm các quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Có thể phân chia một cách khái quát các quy phạm pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ theo các nhóm sau:

Thứ nhất: Nhóm các quy định liên quan đến việc xác định tiêu chuẩn một kết quả sáng tạo là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, các loại đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ, tiêu chí để xác định nó;

Thứ hai: Nhóm các quy định liên quan đến thẩm quyền, trình tự, thủ tục xác lập kết quả sáng tạo được coi là đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ;

Thứ ba: Nhóm các quy định liên quan đến nội dung quyền của các chủ thể đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp (bao gồm quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu, tác giả, các chủ thể khác đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp đã được xác lập);

Thứ : Các quy phạm liên quan đến việc dịch chuyển các đối tượng sở hữu công nghiệp;

Thứ m: Các quy phạm liên quan đến việc bảo vệ quyền của các chủ thể đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp. | Với nghĩa này, quyền sở hữu công nghiệp không chỉ là các quy định của luật dân sự mà thuộc rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau, thuộc nhiều ngành luật khác nhau tạo thành thể thống nhất điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến các đối tượng sở hữu công nghiệp. Ngoài ra, quyền sở hữu công nghiệp không những được các quy phạm pháp luật của quốc gia điều chỉnh mà chúng còn được.

điều chỉnh bởi các điều ước quốc tế song phương đa phương

– Hiểu theo nghĩa chủ quan: Quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ thì: “Quyền sở hữu công nghiệp quyền của tchức, nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa , mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu quyền chống cạnh tranh không lành mạnh

Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh không được coi là một trong các đối tượng cụ thể của quyền sở hữu công nghiệp nhưng nó là sự phát sinh tất yếu trong quá trình các chủ thể thực hiện quyền của mình đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp, do vậy, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được coi là nội dung cơ bản của quyền sở hữu công nghiệp.

Với ý nghĩa này, quyền sở hữu công nghiệp là quyền, nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến việc sử dụng, chuyển dịch các đối tượng sở hữu công nghiệp. Các quyền chủ quan này phải phù hợp pháp luật nói chung và pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp nói riêng, bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản của các chủ thể trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; quyền ngăn chặn những hành vi xâm phạm hoặc cạnh tranh không lành mạnh đối với các quyền của những người sáng tạo ra hoặc người sử dụng hợp pháp các đối tượng đó.

Quyền sở hữu công nghiệp còn được hiểu dưới góc độ là quan hệ pháp luật với đầy đủ các yếu tố hội tụ như chủ thể, khách thể, nội dụng. Quyền sở hữu công nghiệp chỉ được hình thành trên cơ sở sựtác động của các quy phạm pháp luật về sở hữu công nghiệp đối với các kết quả của hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ. Như vậy, chủ thể của quyền sở hữu công nghiệp là tất cả các cá nhân, tổ chức như tác giả hay chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp. Khách thể của quyền sở hữu công nghiệp là các kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ được áp dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lí, tên thương mại, bí mật kinh doanh. Nội dung của quyền sở hữu công nghiệp là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quyền sở hữu công nghiệp được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.

Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp 

a. Đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp luôn gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh 

Một trong những tiêu chí để phân chia kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ thành quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp chính là căn cứ vào tính hữu ích hay khả năng ứng dụng của chúng. Nếu các đối tượng của quyền tác giả chủ yếu được áp dụng trong các hoạt động giải trí tinh thần thì các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp lại được ứng dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh thương mại. Tại Điều 1 Công ước Paris về bảo hộ sở hữu Công nghiệp đã quy định: “Shữu công nghiệp phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất, không những chỉ áp dụng cho công nghiệp thương mại theo đúng nghĩa của chúng cho cả các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác tất cả các sản phẩm công nghiệp sản phẩm tự nhiên như rượu, ngũ cốc, thuốc , hoa quả, gia súc, khoáng sản, nước khoáng, bia bột. Chính vì lẽ đó mà một trong những điều kiện để được bảo hộ của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí là chúng phải có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị cho đời sống con người. Còn đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lí, tên thương mại, bí mật kinh doanh phải chứa đựng các chỉ dẫn thương mại, chúng được xem như chiếc cầu nối giữa nhà sản xuất hay cung cấp dịch vụ đối với người tiêu dùng. Chủ thể nào nắm giữ được các đối tượng này sẽ có những lợi thế cạnh tranh hơn hẳn những chủ thể khác. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với mức độ cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì việc quan tâm, đầu tư và trở thành chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp là công việc thực sự cần thiết.

b. Quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ thông qua thủ tục đăng tại cơ quan nhà nước thẩm quyề

Quyền sở hữu công nghiệp chỉ được pháp luật bảo hộ khi chúng đã được cơ quan nhà nước chính thức cấp văn bằng bảo hộ. Đăng kí văn bằng bảo hộ là cách thức để công khai hoá tình trạng của loại tài sản vô hình này đối với các chủ thể khác, là cách thức để thông báo tài sản này đã thuộc về chủ thể xác định, qua đó tránh tình trạng tài sản bị người khác chiếm đoạt mà không có căn cứ chứng minh để bảo vệ quyền của mình. Khác với quyền tác giả, việc đăng kí chỉ mang tính chất khuyến khích, còn việc đăng kí quyền sở hữu công nghiệp là thủ tục bắt buộc. Nếu một người đã đầu tư rất nhiều công sức, tài chính để tạo ra các đối tượng sở hữu công nghiệp nhưng lại không tiến hành đăng kí quyền cho đối tượng đó thì sẽ không được pháp luật bảo hộ trong trường hợp có người khác chiếm đoạt hoặc đăng kí trước. Họ chỉ được hưởng quyền của người sử dụng trước nếu thành công trong việc chứng minh họ đã tạo ra sản phẩm đó một, cách độc lập trước ngày đơn đăng kí được nộp. Hơn nữa, thông qua thủ tục đăng kí, Nhà nước còn nhằm mục đích khuyến khích các hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và thương mại. Việc đăng tải trên công báo các thông tin về các đối tượng sẽ được cấp văn bằng bảo hộ tạo điều kiện cho các chủ thể khác trong xã hội tiếp cận được các tri thức hiện đại và tiên tiến nhất, làm căn cứ cho các nghiên cứu, phát minh tiếp theo. Bên cạnh đó, vẫn có một số đối tượng sở hữu công nghiệp được xác lập quyền một cách tự động mà không cần phải tiến hành thủ tục đăng kí như bí mật kinh doanh và tên thương mại do đặc trưng và bản chất của chúng.

c. Quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ theo thời hạn của văn bằng bảo hộ 

– Khác với loại tài sản hữu hình (vật, tiên, các giấy tờ có giá…) các đối tượng sở hữu công nghiệp thường được bảo hộ trong khoảng thời gian xác định (tuy có một số loại đối tượng không xác định thời hạn). Các đối tượng được bảo hộ theo thời hạn là các đối tượng xác định được tác giả sáng tạo ra đối tượng đó, những đối tượng sở hữu công nghiệp không xác định tác giả sáng tạo được bảo hộ không thời hạn hoặc có thời hạn với những điều kiện nhất định. Có thể phân loại các đối tượng sở hữu công nghiệp thành các đối tượng có xác lập quyền tác giả hay không xác lập quyền tác giả.

– Đối với đối tượng có xác lập quyền tác giả, việc quy định thời hạn bảo hộ cần phải được xác định là điều cần thiết. Con người luôn tìm tòi, sáng tạo ra những cái mới để phục vụ lợi ích của mình, kết quả sáng tạo của người này, của thế hệ này có thể sẽ là tiền đề cho sáng tạo của người khác, của thế hệ sau. Do sự sáng tạo của

con người là vô hạn vì vậy những điều phù hợp với điều kiện hiện tại, đối với người này có thể không còn phù hợp với tương lai. Nếu cứ tiếp tục bảo vệ kết quả sáng tạo đó với thời gian không hạn định sẽ trở thành rào cản cho tiến bộ xã hội, hơn nữa kìm hãm sự phát triển của xã hội. Việc quy định thời hạn bảo hộ đối với một Số đối tượng sở hữu công nghiệp là điều cần thiết. Thời hạn bảo hộ đối tượng sở hữu công nghiệp là thời hạn có hiệu lực của văn bằng bảo hộ. Có thể chia thời hạn bảo hộ thành ba loại:

Thứ nhất, thời hạn bảo hộ được xác định và không được gia hạn. Loại thời hạn này được áp dụng đối với sáng chế là 20 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ; với giải pháp hữu ích là 10 năm; với thiết kế bố trí mạch tích hợp là 10 năm kể từ năm kể từ ngày đăng kí hoặc ngày người có quyền nộp đơn khai thác, cho phép người khác khai thác thương mại tại bất kì nơi nào trên thế giới hoặc 15 năm tính từ ngày tạo ra thiết kế bố trí; 20 năm đối với giống cây trồng (25 năm đối với cây thân gỗ và cây nho) tính từ ngày cấp; với kiểu dáng công nghiệp là 5 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ;

Thứ hai, thời hạn bảo hộ được xác định và có thể được gia hạn. Loại thời hạn này được áp dụng đối với nhãn hiệu là 10 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ, có thể gia hạn liên tiếp nhiều lần mỗi lần 10 năm.

Đối với các đối tượng nêu trên, việc bảo hộ trong thời hạn xác định chỉ có hiệu lực khi chủ sở hữu văn bằng bảo hộ nộp lệ phí duy trì hiệu lực của văn bằng.

Thứ ba, thời hạn bảo hộ không xác định. Loại thời hạn này được áp dụng đối với tên thương mại, chỉ dẫn địa lí, bí mật kinh doanh cho đến khi nào còn đáp ứng được điều kiện bảo hộ.

Đánh giá bài viết:
5/5 - (58 bình chọn)